Tình hình phát triển khu, cụm công nghiệp hỗ trợ tại các địa phương và đề xuất
Trong 30 năm hình thành và phát triển, các Khu Công nghiệp (KCN), Cụm Công nghiệp (CCN), Khu kinh tế (KKT) nói chung và KCN, Cụm Công nghiệp hỗ trợ (CCNHT) mới riêng của Việt Nam đã khẳng định vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp (DN) đầu tư công nghệ vào sản xuất và tạo công ăn việc làm cũng như phát triển kinh tế đất nước.
Đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế công nghiệp, KCN, CCN hỗ trợ luôn được nhắc đến với vai trò là "trợ thủ" đắc lực của các dự án KCN, CCN quy mô lớn.
Tại các quốc gia phát triển, các trung tâm công nghiệp luôn có sự phân công rõ rệt đối với các KCN, CCN, và CCN hỗ trợ. Mặc dù ngành nghề sản xuất, kinh doanh giữa KCN, CCN và CCN hỗ trợ hoàn toàn khác biệt, tuy nhiên lại có mối quan hệ mật thiết, cả 02 cùng hỗ trợ cho nhau để phát triển bền vững.
Với đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển KCN, CCN để tạo tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; chủ trương đổi mới, mở cửa nền kinh tế, mở rộng hợp tác quốc tế và phát huy nội lực để tăng trưởng kinh tế đã được quán triệt rộng rãi từ Trung ương đến địa phương và các thành phần kinh tế.
Sự phát triển các KCN, CCN hỗ trợ trong giai đoạn vừa qua rộng khắp trên phạm vi toàn quốc, song nhìn chung tập trung chủ yếu ở khu vực 3 vùng kinh tế trọng điểm. Sự phân bố tập trung này là khách quan, bởi các Vùng kinh tế trọng điểm là nơi thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp nói chung và các KCN, CCN nói riêng.
Phát triển KCN, CCN hỗ trợ có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá của mỗi quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Vì ở những quốc gia này, muốn hình thành và phát triển một số ngành công nghiệp hiện đại, nhất là những ngành công nghiệp như sản xuất ô tô, xe máy; các sản phẩm điện tử, điện lạnh,... một cách hiệu quả, do đó phát triển mạnh ngành CNHT để các sản phẩm thay thế dần, tiến tới thay thế hoàn toàn các sản phẩm nhập khẩu. Tuy nhiên hiện nay Việt Nam vẫn còn yếu trong lĩnh vực này. Ngành CNHT Việt Nam phát triển chậm và đi sau nhiều quốc gia trong khu vực Châu Á mặc dù Chính phủ đã đưa ra nhiều biện pháp khuyến khích và thúc đẩy đến các doanh nghiệp. Bằng chính sách thu hút vốn Đầu tư nước ngoài (FDI),
- Xem chi tiết tại đây;
Thực hiện: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại
-
Từ các định nghĩa về chuỗi cung ứng, có thể hiểu chuỗi cung ứng toàn cầu (global supply chain) bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc cung cấp, sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc một dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng tiêu dùng cuối cùng trên phạm vi toàn cầu
-
Nguồn nhân lực được xem là tài sản quan trọng nhất của bất kỳ quốc gia nào và việc đầu tư vào con người luôn là một điều tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH). Sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia chỉ có thể thực hiện được khi việc phát triển nguồn nhân lực của quốc gia đó được quan tâm và chú trọng.
-
TP.HCM đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp, trong đó có 4 ngành trọng yếu là cơ khí, chế biến lương thực - thực phẩm, hóa chất - nhựa - cao su và ngành điện tử - công nghệ thông tin. Thực tế, ngành CNHT của cả nước nói chung và TP. HCM nói riêng hiện nay còn yếu, nguyên nhân do các doanh nghiệp CNHT chủ yếu là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, thiếu tiềm lực tài chính, kinh nghiệm quản lý và khả năng tiếp cận công nghệ hiện đại.
-
Trong số nhiều định nghĩa về công nghệ cao, Từ điển Oxford định nghĩa: Công nghệ cao là “Các phương pháp và máy móc hiện đại nhất, đặc biệt là các máy móc, thiết bị điện tử và sử dụng những phương pháp và máy móc này trong các ngành công nghiệp”. Đây có lẽ là cách định nghĩa trực tiếp, đơn giản nhất với tiêu chí của công nghệ cao là “hiện đại nhất”.







