Giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao tại Việt Nam
Trong số nhiều định nghĩa về công nghệ cao, Từ điển Oxford định nghĩa: Công nghệ cao là “Các phương pháp và máy móc hiện đại nhất, đặc biệt là các máy móc, thiết bị điện tử và sử dụng những phương pháp và máy móc này trong các ngành công nghiệp”. Đây có lẽ là cách định nghĩa trực tiếp, đơn giản nhất với tiêu chí của công nghệ cao là “hiện đại nhất”.
Tại Việt Nam, Luật Công nghệ cao 2018 định nghĩa: “Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có”. Định nghĩa này đặt ra tiêu chí khá tương đồng với các định nghĩa phổ biến trên thế giới đó là: “hàm lượng cao về khoa học và công nghệ”, “hiện đại”, vượt trội, đồng thời cũng đưa ra các tiêu chí khắt khe hơn như có “giá trị gia tăng cao”’ “thân thiện với môi trường”, “có vai trò quan trọng,
Cũng theo Luật Công nghệ cao 2018, “Hoạt động công nghệ cao là hoạt động nghiên cứu, phát triển, tìm kiếm, chuyển giao, ứng dụng công nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao; phát triển công nghiệp công nghệ cao” và “Sản phẩm công nghệ cao là sản phẩm do công nghệ cao tạo ra, có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường”.
Tuy nhiên, từ năm 2008 đến nay, trên thế giới đã chứng kiến những thay đổi lớn về khoa học công nghệ. Có thể thấy trên thế giới định nghĩa về công nghệ cao rất đa dạng và sẽ liên tục thay đổi theo tốc độ nhanh như vũ bão của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0). Thậm chí gần đây đã có các khái niệm về công nghệ thế hệ mới, công nghệ “tiên phong” (frontier technology), thường được hiểu là những công nghệ mới và đang phát triển nhanh chóng, có tính bứt phá, đặc biệt là nhóm công nghệ tận dụng khả năng số hóa và có tính kết nối.
- Xem chi tiết tại đây;
Thực hiện: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại
-
Theo số liệu từ Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), vào năm 2020, nền kinh tế của Malaysia lớn thứ tư ở Đông Nam Á. Đây cũng là nền kinh tế lớn thứ 36 trên thế giới. Năng suất lao động ở Malaysia cao hơn đáng kể so với các nước láng giềng Thái Lan, Indonesia, Philippines hoặc Việt Nam
-
Hiện nay, một số ngành công nghiệp có thế mạnh của Việt Nam như điện tử, dệt may, da giày, lắp ráp ô tô, xe máy,… hầu như chưa có công nghiệp hỗ trợ đi kèm, nên phải phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, khiến sản xuất nhiều khi còn manh mún, bị động, chi phí sản xuất cao. Số liệu thống kê gần đây cho thấy
-
Đức và Pháp là hai nền kinh tế lớn nhất EU, đồng thời cũng là những nước tiên phong từ những cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0), Chính phủ và các doanh nghiệp tại hai nước này cũng đang thể hiện những quyết tâm và đầu tư mạnh mẽ để đổi mới các nền công nghiệp vốn đã là thế mạnh của họ.
-
Ngay từ cuối năm 2020, nền kinh tế Đài Loan (TQ) đã bắt đầu phục hồi trước tác động của đại dịch Covid-19 toàn cầu. Trong khi đó, việc mở rộng nhanh chóng các đơn đặt hàng điện tử toàn cầu kể cuối giữa năm 2020 đã giúp thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ,







