Việt Nam xuất siêu sang Hồng Kông đạt gần 15 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm 2026
Theo số liệu từ Cục Hải quan Việt Nam, trong 8 tháng đầu năm, Việt Nam tiếp tục duy trì thặng dư thương mại lớn với thị trường Hồng Kông (Trung Quốc), khẳng định vai trò quan trọng thị trường này trong hoạt động thương mại và kết nối chuỗi cung ứng khu vực của Việt Nam. Trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu sang Hồng Kông đạt 15,43 tỷ USD, trong khi kim ngạch nhập khẩu chỉ đạt 471 triệu USD. Nhờ đó, Việt Nam ghi nhận mức thặng dư thương mại lên tới gần 15 tỷ USD, tăng 41,92% so với cùng kỳ năm 2025.

Ảnh minh hoạ
Đà bứt phá thể hiện rõ nét nhất trong tháng 8/2026 khi xuất khẩu đạt tới 2,63 tỷ USD, giúp mức xuất siêu trong tháng đạt 2,57 tỷ USD, tăng 39,26% so với tháng 7 và tăng tới 51,87% so với cùng kỳ năm trước. Sự cách biệt này đưa Hồng Kông thành một trong những thị trường mang lại thặng dư ngoại tệ lớn và ổn định cho nền kinh tế Việt Nam.
Đặt trong bức tranh xuất khẩu chung của cả nước 8 tháng đầu năm, Hồng Kông hiện ở vị trí thứ 5 trong nhóm các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Thị trường này chỉ xếp sau Hoa Kỳ (122,02 tỷ USD), Trung Quốc đại lục (54,20 tỷ USD), Hàn Quốc (22,26 tỷ USD), Nhật Bản (20,46 tỷ USD), đồng thời đã vượt qua các đối tác tiếp theo như Hà Lan, Ấn Độ, Đức và Thái Lan. Nhờ đó, tỷ trọng của Hồng Kông trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước đã tăng từ mức 3,65% cùng kỳ năm trước lên 4,12%. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang Hồng Kông đạt mức tăng 38,23% trong 8 tháng và tăng tới 50,97% riêng trong tháng 8, cao hơn so với tốc độ tăng bình quân của các đối tác chủ lực như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản.
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang Hồng Kông cho thấy sự chi phối từ các nhóm hàng công nghệ, kỹ thuật cao. Tiếp tục giữ vai trò chủ lực là nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện khi mang về hơn 9,72 tỷ USD sau 8 tháng, đạt mức tăng trưởng 41,23% và chiếm tới 63,01% tổng kim ngạch toàn thị trường. Riêng trong tháng 8, nhóm này tăng tốc nhanh khi đạt 1,83 tỷ USD, tăng 62,7% so với tháng trước. Đứng ở vị trí thứ hai là nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác với hơn 3,53 tỷ USD, tăng 58,54% so với cùng kỳ và chiếm 22,91% tỷ trọng, trong đó riêng tháng 8 đạt gần 533,8 triệu USD. Nổi bật nhất là nhóm đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận với mức tăng trưởng phi mã 254,45%, đạt 91,56 triệu USD trong 8 tháng.
Ở chiều ngược lại, mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện sụt giảm 23,02%, chỉ đạt 714,09 triệu USD và thu hẹp tỷ trọng xuống 4,63%. Tương tự, nhóm máy ảnh, máy quay phim và linh kiện giảm 25,05%, trong khi các ngành hàng truyền thống như dệt may và giày dép cũng ghi nhận mức giảm nhẹ lần lượt 2,32% và 5,48%. Dù vậy, tốc độ tăng trưởng nhanh từ nhóm linh kiện điện tử và máy móc thiết bị vẫn đóng vai trò trụ cột, tạo nền tảng vững chắc cho đà tăng trưởng thương mại giữa Việt Nam và Hồng Kông trong những tháng cuối năm 2026.
- Xem chi tiết tại đây;
Thực hiện: Thuỳ Ngân
-
Trong 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường I-xra-en tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, đạt 804,68 triệu USD, tăng 46,2% so với cùng kỳ năm 2025, cao hơn mức tăng 40,2% của 7 tháng đầu năm 2026, bất chấp những bất ổn về an ninh và địa chính trị tại khu vực Trung Đông. Trong bối cảnh đó, hàng dệt, may tiếp tục là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường I-xra-en
-
Sau khi Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - I-xra-en (VIFTA) được thực thi, mức thuế quan đối với nhiều mặt hàng thủy sản chủ lực của Việt Nam được giảm đáng kể và nhiều chủng loại thủy sản lớn xuất khẩu sang thị trường này trong 8 tháng đầu năm 2026 đều đạt mức tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2025
-
Sau gần 2 năm thực thi, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam-I-xra-en đã mang lại những tác động rõ rệt nhờ mức độ mở cửa thị trường mạnh mẽ của cả hai phía. I-xra-en xóa bỏ hơn 66% dòng thuế ngay khi hiệp định có hiệu lực và sẽ nâng tỷ lệ tự do hóa lên gần 93%, trong khi Việt Nam cũng cam kết mở tới gần 86% dòng thuế, vào cuối lộ trình.
-
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) mở ra không gian thị trường rộng lớn cho doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, để biến các ưu đãi của RCEP thành lợi thế thực tế, doanh nghiệp phải nâng cao năng lực đáp ứng quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật…








