BẢN TIN: Tái cơ cấu trong Công nghiệp và Thương mại "Ngành Công nghiệp sản xuất Gốm sứ”
Gốm sứ là ngành công nghiệp truyền thống với lịch sử phát triển lâu đời. Đặc biệt, sau khi Bộ Công thương ban hành Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Gốm sứ - Thủy tinh công nghiệp Việt Nam vào năm 2014 đến nay, ngành gốm sứ Việt Nam đã có sự tăng trưởng nhanh chóng về sản lượng, công nghệ sản xuất, giúp Việt Nam nâng cao năng suất, chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm gốm, trong đó, nhiều doanh nghiệp đã có chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc tế.

Theo số liệu của Cục Thống kê, giai đoạn 2016-2020, sản lượng sứ dân dụng của Việt Nam đạt bình quân 404,34 triệu cái/năm. Sang giai đoạn 2021-2025, sản lượng bình quân tăng khoảng 2,5 lần, lên 1,02 tỷ cái/ năm. Trong giai đoạn này, sản lượng cao nhất đạt 1,4 tỷ cái vào năm 2021, trong khi năm 2025 ghi nhận mức thấp nhất, khoảng 876 triệu cái.
Sản lượng sứ vệ sinh cũng tăng mạnh, từ mức bình quân 22,66 triệu cái/năm trong giai đoạn 2016-2020 lên tới 52,4 triệu cái/ năm trong giai đoạn 2021-2025, tương ứng hơn 2,3 lần. Riêng năm 2025, Việt Nam sản xuất 52,5 triệu cái sứ vệ sinh, tăng 7,4% so với năm 2024 và là mức cao nhất trong 4 năm trở lại đây sau mức đỉnh đạt được vào năm 2021.
Trong khi đó, sản lượng gạch nung của Việt Nam trong giai đoạn 2021-2025 giảm 20,9%, chỉ còn bình quân 11,3 tỷ viên/năm, so với 14,3 tỷ viên/năm của giai đoạn 2016 - 2020. Nguyên nhân chủ yếu là các địa phương từng bước xóa bỏ các cơ sở sản xuất gạch đất sét nung với công nghệ lạc hậu, không hiệu quả kinh tế, gây ô nhiễm môi trường. Đồng thời khuyến khích sử dụng vật liệu xây không nung theo định hướng tại Quyết định 1469/QĐ-TTg ngày 22/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, sản xuất gạch nung đang phục hồi. Năm 2025, sản lượng đạt 11,54 tỷ viên, tăng 9,1% so với năm 2024 và cao nhất kể từ năm 2022.
- Xem chi tiết tại đây;
VITIC thực hiện
-
Với hơn 450 nghìn người và nhu cầu tiêu dùng đa dạng, EU là một trong những thị trường lớn trên thế giới và là thị trường xuất khẩu sản phẩm nhựa lớn thứ 3 của Việt Nam sau Hoa Kỳ và Nhật Bản. Theo số liệu thống kê của Cục Hải quan Việt Nam, trong 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam sang EU đạt 552,9 triệu USD, tăng 25,2% so với cùng kỳ năm 2025
-
EU là thị trường xuất khẩu sắt thép các loại lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2026, đạt 1,36 triệu tấn, trị giá 905,2 triệu USD, giảm 6,11% về lượng và giảm 8,01% về trị giá so với cùng kỳ năm trước, chiếm 17,3% về lượng 16,6% về trị giá trong tổng xuất khẩu sắt thép của cả nước
-
Trong những năm vừa qua, ngành công nghiệp sản xuất đồ nội thất Việt Nam đã khẳng định vị thế trong nền kinh tế. Đồng thời trong chuỗi cung ứng nội thất toàn cầu, Việt Nam đã chuyển từ một trung tâm sản xuất khu vực thành một trong những quốc gia xuất khẩu nội thất quan trọng trên thế giới với phần lớn sản lượng nội thất của Việt Nam được đưa ra thị trường nước ngoài
-
Quyết định của Ủy ban Châu Âu về việc loại trừ da sống và da thuộc (mã số thuế 4101, 4104 và 4107) khỏi Phụ lục I của Quy định (EU) 2023/1115 (EUDR) hàm ý một sự thay đổi cơ bản trong các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc môi trường đối với chuỗi giá trị giày dép, đồ da và thuộc da ở cấp độ toàn cầu.








