Tình hình thực thị các chính sách phát triển các ngành CNHT tại thị trường nước ngoài và định hướng của Việt Nam
Phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đã và đang được nhiều chính phủ các nước quan tâm đầu tư nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là các nước đang phát triển ở châu Á.
Một số nhóm chính sách tiêu biểu đã được thực hiện ở các quốc gia trên thế giới như sau:
1.1.1. Xây dựng cơ chế chính sách phát triển CNHT phù hợp
Ở nhiều quốc gia, thời gian đầu phát triển CNHT, vai trò định hướng của Chính phủ rất quan trọng, trước hết là các chính sách.
Ở Nhật Bản, đã có Luật xúc tiến công nghiệp chế tạo máy, áp dụng chính sách hỗ trợ cụ thể cho các ngành CNHT (năm 1956); Luật Phòng chống trì hoãn thanh toán chi phí thầu phụ; Luật Xúc tiến doanh nghiệp (DN) thầu phụ nhỏ và vừa (năm 1970)… Hiện nay, chính sách của Nhật Bản là thúc đẩy các DN liên kết với các DN nước ngoài, sử dụng có hiệu quả các phụ tùng giá rẻ của nước ngoài. Duy trì và tăng cường ưu thế về công nghệ và khâu khai thác phát triển sản phẩm mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã và hỗ trợ các DN mở rộng sản xuất, thâm nhập thị trường ngoài nước. Các DN Nhật Bản rất thành công trong việc “xuất khẩu sản xuất”, tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm trên toàn cầu, khai thác hiệu quả thị trường quốc tế với sức cạnh tranh cao.
Ở Hàn Quốc, Chính phủ đã thiết lập các chương trình hỗ trợ thông qua việc ban hành Đạo luật đặc biệt về sản xuất linh kiện và vật liệu vào tháng 2- 2001 có hiệu lực đến ngày 30-12-2011. Trong tháng 8-2011, Quốc hội (do Ủy ban Kinh tế Tri thức) đề xuất việc sửa đổi, trong đó sẽ kéo dài hiệu lực thêm 10 năm cho Đạo luật đặc biệt này. Chính phủ thành lập và công bố sáng kiến ngày 1-11-2011 về "Vật liệu và Linh kiện Tầm nhìn 2020". Cùng với việc ban hành đạo luật về CNHT, chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng "Quy hoạch cơ bản giai đoạn 1, cho ngành CNHT (MCT-2010)" với sáng kiến phát triển những linh kiện có thể tạo cho lợi nhuận lớn trong một thời gian ngắn đồng thời xây dựng cơ sở hạ tầng và mạng lưới thông tin, hệ thống cơ sở dữ liệu một cách bền vững. Sau khi thiết lập thành công cơ sở hạ tầng vào giữa những năm 2000, mục tiêu chính của Chính phủ là khuyến khích các DN hàng đầu của Hàn Quốc tập trung vào phát triển kỹ thuật và công nghệ ngành CNHT. Chính phủ Hàn Quốc đã công bố "Chính sách mới cho khuyến khích DN hàng đầu trong ngành CNHT" năm 2006.
- Xem chi tiết tại đây;
Thực hiện Trung tâm Thng tin Công nghiệp và Thương mại
-
Từ sự trỗi dậy của Anh trong thế kỷ 19, đến sự trỗi dậy của Hoa Kỳ, Đức, Nhật vào giữa thế kỷ 20, đến các nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan vào cuối thể kỷ 20, và gần đây là Trung Quốc... đã cho thấy các ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) và công nghiệp lắp ráp sản xuất là con đường phát triển, là chìa khoá để tạo nên sự thịnh vượng của mỗi quốc gia.
-
Trong bối cảnh nền kinh tế khu vực và thế giới đang ngày càng có quan hệ mật thiết và tạo thành những hệ thống mạng lưới hợp tác phân công lao động toàn cầu (global network of labor division), để công nghiệp hóa thành công Việt Nam cần hòa nhập và tìm cho mình được một chỗ đứng trong đó. Việc chỉ sử dụng những lợi thế so sánh tĩnh (giá nhân công rẻ
-
Công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò rất quan trọng đặc biệt là trong nền kinh tế, là động lực trực tiếp để tạo ra giá trị gia tăng, giúp tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa quốc gia. Tổng quát hơn, việc thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ sẽ giúp làm giảm nhẹ kim ngạch nhập khẩu của đầu vào sản xuất, qua đó
-
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, có lịch sử phát triển lâu dài và có nguồn gốc, bản chất xã hội của lao động và sự phát triển văn minh của quan hệ giữa con người với con người. Trong xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển phải có mối liên kết chặt chẽ với nhau. Rộng hơn, ở phạm vi quốc tế, một quốc gia muốn phát triển phải liên kết với các quốc gia khác.







