Xuất khẩu xơ sợi quý I/2022 tăng 46% so cùng kỳ
Trong quý I/2022, xuất khẩu xơ, sợi dệt các loại của Việt Nam đạt 1,44 tỷ USD, tăng 14,94% so với cùng kỳ năm 2021 và tăng 46,09% so với cùng kỳ năm 2019.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong quý I/2022, xuất khẩu xơ, sợi dệt các loại của Việt Nam đạt 1,44 tỷ USD, tăng 14,94% so với cùng kỳ năm 2021 và tăng 46,09% so với cùng kỳ năm 2019.
Các thị trường xuất khẩu xơ, sợi chính của Việt Nam là Trung Quốc, Hàn Quốc, Bangladesh… So với quý I/2022, xuất khẩu xơ sợi các loại của Việt Nam tăng mạnh sang các thị trường Hàn Quốc, ASEAN, Bangladesh, Hoa Kỳ…và chỉ tăng nhẹ sang thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, so với quý I/2019, xuất khẩu xơ sợi của Việt Nam sang tất cả các thị trường này đều tăng trưởng ở mức rất cao. Ngoài ra, xuất khẩu sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Brazil, Hồng Kông giảm so với thời điểm trước dịch.
Bảng 1: Thị trường xuất khẩu xơ, sợi chủ yếu của Việt Nam quý I/2022
|
Thị trường |
Quý I/2022 |
Tỷ trọng xuất khẩu (%) |
||||
|---|---|---|---|---|---|---|
|
Trị giá (Triệu USD) |
So với QI/2021 (%) |
So với QI/2019 (%) |
QI/2022 |
QI/2021 |
QI/2019 |
|
|
Tổng |
1.447,71 |
18,94 |
46,09 |
100,00 |
100,00 |
100,00 |
|
RCEP |
1.011,37 |
11,26 |
35,39 |
69,86 |
74,68 |
75,38 |
|
CPTTP |
53,10 |
21,31 |
48,29 |
3,67 |
3,60 |
3,61 |
|
Trung Quốc |
703,02 |
6,09 |
25,10 |
48,56 |
54,44 |
56,71 |
|
Hàn Quốc |
149,44 |
13,30 |
71,40 |
10,32 |
10,84 |
8,80 |
|
ASEAN |
132,54 |
41,10 |
68,64 |
9,16 |
7,72 |
7,93 |
|
Indonesia |
43,35 |
45,72 |
132,14 |
2,99 |
2,44 |
1,88 |
|
Thái Lan |
33,85 |
35,22 |
5,98 |
2,34 |
2,06 |
3,22 |
|
Campuchia |
23,25 |
27,60 |
229,63 |
1,61 |
1,50 |
0,71 |
|
Philippines |
16,93 |
349,43 |
143,32 |
1,17 |
0,31 |
0,70 |
|
Malaysia |
15,15 |
-11,68 |
8,49 |
1,05 |
1,41 |
1,41 |
|
Bangladesh |
70,75 |
165,32 |
277,08 |
4,89 |
2,19 |
1,89 |
|
Hoa Kỳ |
54,40 |
130,60 |
280,75 |
3,76 |
1,94 |
1,44 |
|
Đài Loan |
44,67 |
13,68 |
206,96 |
3,09 |
3,23 |
1,47 |
|
Thổ Nhĩ Kỳ |
33,09 |
53,59 |
-3,92 |
2,29 |
1,77 |
3,48 |
|
Pakistan |
29,71 |
61,54 |
216,41 |
2,05 |
1,51 |
0,95 |
|
Nhật Bản |
26,38 |
28,59 |
36,85 |
1,82 |
1,69 |
1,95 |
|
EU |
24,06 |
166,31 |
62,06 |
1,66 |
0,74 |
1,50 |
|
Italy |
12,82 |
170,60 |
215,75 |
0,89 |
0,39 |
0,41 |
|
Romania |
11,24 |
161,58 |
67,83 |
0,78 |
0,35 |
0,68 |
|
Colombia |
18,37 |
2,65 |
94,00 |
1,27 |
1,47 |
0,96 |
|
Ấn Độ |
17,90 |
10,19 |
-44,24 |
1,24 |
1,33 |
3,24 |
|
Ai Cập |
14,29 |
25,78 |
7,51 |
0,99 |
0,93 |
1,34 |
|
Sri Lanka |
11,86 |
28,95 |
95,10 |
0,82 |
0,76 |
0,61 |
|
Brazil |
9,00 |
-73,09 |
-61,32 |
0,62 |
2,75 |
2,35 |
|
Pê Ru |
8,30 |
85,57 |
1111,93 |
0,57 |
0,37 |
0,07 |
|
Anh |
7,76 |
65,75 |
89,79 |
0,54 |
0,38 |
0,41 |
|
Hồng Kông |
5,88 |
-58,76 |
-63,53 |
0,41 |
1,17 |
1,63 |
|
Chile |
3,26 |
101,05 |
73,92 |
0,23 |
0,13 |
0,19 |
Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ
Theo Hiệp hội Bông sợi Việt Nam, có 4 yếu tố lớn sẽ tác động tới sự tăng trưởng ngành sợi Việt Nam trong năm 2022.
Thứ nhất, dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp trên toàn cầu sẽ ảnh hưởng đến chuỗi giá trị dệt may nói chung và ngành sợi nói riêng.Hiện nay, các nước phát triển đang ráo riết thực hiện tiêm chủng mở rộng cho toàn dân, đồng thời viện trợ vắc xin cho các nước đang và kém phát triển nhằm nỗ lực đạt được mức độ miễn dịch cộng đồng cao nhất có thể. Vì vậy, có thể kỳ vọng năm 2022 khi hoạt động sản xuất, kinh doanh, giao thương quốc tế cùng với chuỗi giá trị toàn cầu có thể được kết nối trở lại, tạo động lực cho sự phục hồi của ngành dệt may nói chung, ngành sợi nói riêng.
Thứ hai, nhu cầu sợi toàn cầu dự báo sẽ tăng trong năm 2022 do nhu cầu hàng dệt may tăng trở lại.Mới đây, các tổ chức kinh tế quốc tế đều đưa ra dự báo lạc quan về sự phục hồi kinh tế của các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc và các quốc gia EU. Đây đều là các thị trường tiêu thụ dệt may lớn của Việt Nam. Theo báo cáo vào tháng 10/2021 của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tăng trưởng của Mỹ, Trung Quốc, EU lần lượt là 5,2%, 5,6%, 4,3% trong năm 2022. Sự phục hồi kinh tế của các nước lớn là động lực cho cầu dệt may tăng trưởng, kéo theo cầu về sợi cũng tăng cao. Ngược lại, phục hồi kinh tế của các nước đang phát triển, bao gồm nhiều nước sản xuất dệt may sẽ chậm hơn. Như vậy, nhu cầu dệt may có thể sẽ tăng trưởng nhanh hơn nguồn cung dệt may.
Thứ ba, Trung Quốc hiện vẫn là thị trường nhập khẩu xơ, sợi lớn nhất của Việt Nam, chiếm đến 53,2% tổng kim ngạch xuất khẩu xơ, sợi. Ngược lại, Việt Nam cũng là nhà cung ứng sợi lớn nhất cho Trung Quốc, chiếm 37% trị giá nhập khẩu xơ, sợi của Trung Quốc trong năm 2021.Trong kế hoạch phát triển dệt may 5 năm tới, Trung Quốc sẽ không chú trọng vào “tăng trưởng về lượng” mà tập trung vào “phát triển về chất” để tạo ra giá trị gia tăng nhiều hơn trong chuỗi cung ứng, ưu tiên phát triển “xanh” và “bền vững” bằng cách sử dụng các nguyên liệu tái chế và “organic”, giảm tối đa lượng phát thải ra môi trường. Vì vậy, Trung Quốc sẽ có xu hướng tập trung vào sản xuất các loại sợi cao cấp với chỉ số cao.Đồng thời, nước này sẽ tăng cường nhập khẩu các loại sợi có chỉ số thấp và trung bình hoặc dịch chuyển việc sản xuất các loại sợi này sang các nước khác. Trong ngắn hạn, việc dịch chuyển sản xuất chưa thể thực hiện ngay, mà khả năng cao hơn là Trung Quốc sẽ tăng cường nhập khẩu sợi từ các nước khác trong năm 2022.
Thứ tư, tác động của mối quan hệ thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, hai quốc gia cung và cầu dệt may lớn nhất thế giới trong năm 2022.Ngành sợi Việt Nam với hơn 70% sản lượng dùng để xuất khẩu, trong đó xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc chiếm khoảng 55- 70% tuỳ từng giai đoạn. Mặt khác, nguồn nguyên liệu đầu vào chính của ngành sợi là bông lại hoàn toàn nhập khẩu với hơn 50% đến từ Mỹ, còn lại từ các nước khác như Brazil, Ấn Độ, Úc, Tây Phi…Điều này cho thấy, ngành sợi Việt Nam dễ bị ảnh hưởng trước các biến động về kinh tế, chính trị, quan hệ thương mại giữa các nước, đặc biệt là quan hệ thương mại giữa hai cường quốc lớn là Mỹ và Trung Quốc.
Năm 2021, Mỹ và Trung Quốc đạt được thỏa thuận Giai đoạn Một, theo đó Trung Quốc đã cam kết mua một lượng lớn bông Mỹ. Vì vậy, rất có thể Thỏa thuận giai đoạn Hai sẽ được ký kết vào cuối năm nay, tạo ra cục diện hòa bình tạm thời, khơi thông dòng chảy thương mại giữa hai nước để tránh tổn thương nền kinh tế. Điều này cũng sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho sự tăng trưởng của dệt may toàn cầu.
Nguồn: Phòng TTCN
-
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước trong tháng 3/2022 đạt mức cao kỷ lục với trị giá là 67,37 tỷ USD, tăng 38,1% tương ứng tăng 18,6 tỷ USD so với tháng trước
-
Kết thúc phiên ngày 14/4, tại London, giá dầu Brent Biển Bắc giao kỳ hạn giảm 86 xu Mỹ (0,8%), xuống 107,92 USD/thùng. Trong khi đó, giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) cũng hạ 1,1 USD, xuống 103,15 USD/thùng.
-
Tỉnh nào có kết quả xuất khẩu thủy sản tốt nhất năm 2021? Phân tích cơ cấu mặt hàng, thị trường xuất khẩu thủy sản năm 2021 và dự báo năm 2022
-
Ngày 12 tháng 4 năm 2022, Ủy ban châu Âu đã ban hành quy định số 2022/617, thay thế quy định 1881/2006 về dư lượng tối đa của thủy ngân trong thủy sản và muối.








