Xuất khẩu nông lâm thủy sản 4 tháng tăng 24,2%
Theo Bộ NN&PTNT, 4 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng nông lâm thủy sản (NLTS) ước đạt 32,07 tỷ USD, trong đó xuất khẩu (XK) đạt khoảng 17,15 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm ngoái.
Xuất khẩu chè tăng gần 8% về giá trị dù không tăng nhiều về khối lượng. Ảnh: VGP/Đỗ Hương
Bộ NN&PTNT cho biết, trong tháng 4/2021, thời tiết khá thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản. Toàn ngành tích cực hướng dẫn các địa phương triển khai hiệu quả kế hoạch sản xuất, phòng chống dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong nước và mở cửa thị trường.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng NLTS 4 tháng đầu năm 2021 ước đạt 32,07 tỷ USD, trong đó XK đạt khoảng 17,15 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Về nhập khẩu (NK) ước khoảng 14,93 tỷ USD, tăng 48,7%; xuất siêu khoảng 2,2 tỷ USD, giảm 41,1% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, XK nhóm nông sản chính ước đạt 5,9 tỷ USD, tăng 9,0%; lâm sản chính đạt 5,33 tỷ USD, tăng 50,9%; thủy sản ước đạt 2,39 tỷ USD, tăng 6,1%; chăn nuôi ước đạt 125 triệu USD, tăng 37,4%.
Trong 4 tháng đầu năm, nhiều sản phẩm, nhóm sản phẩm có giá trị XK tăng nổi bật gồm cao su tăng hơn 100%; sắn và sản phẩm từ sắn tăng gần 24%; sản phẩm chăn nuôi tăng hơn 37%; sản phẩm gỗ tăng hơn 71%; mây, tre, cói thảm tăng gần 66%... Trong đó, cao su, chè, sắn tăng cả khối lượng và giá trị xuất khẩu: Cao su (tăng 79,6% khối lượng, tăng 111,6% giá trị); chè (tăng 1,6% khối lượng và tăng 7,9% giá trị), sắn (tăng 65,3% khối lượng và tăng đến 90,9% giá trị).
Đặc biệt có 2 mặt hàng dù giảm khối lượng nhưng nhờ giá trị xuất khẩu bình quân tăng nên vẫn tăng giá trị gồm: Gạo (giảm 10,8% khối lượng nhưng tăng 1,2% giá trị); hạt tiêu (giảm 21,3% khối lượng nhưng tăng 10,3% giá trị).
Một số mặt hàng có giá trị XK giảm như: Cà phê giảm 17,6% khối lượng, giảm 11,6% giá trị, hạt điều tăng 8,6% khối lượng nhưng giảm 7,8% giá trị.
Về thị trường XK, theo ước tính giá trị XK nông, lâm, thủy sản 4 tháng đầu năm 2021 của Việt Nam tới các thị trường thuộc khu vực châu Á chiếm 46,9% thị phần, châu Mỹ chiếm 27,6%, châu Âu 10,0%, châu Đại Dương 1,4% và châu Phi 1,4%.
Nguồn: Báo Chính phủ điện tử
Link nguồn
-
Thương vụ Việt Nam tại Anh quốc cho biết, phần lớn gạo Việt Nam tại Anh mang thương hiệu của nhà phân phối chứ không mang thương hiệu của vùng trồng lúa hay thương hiệu của nhà xuất khẩu. Để có thể tạo ra đột phá thị trường lớn hơn nữa và tăng cường vị thế bền vững cho hạt gạo Việt Nam trên thị trường Anh, ngành lúa gạo Việt Nam cần triển khai một chiến lược thương hiệu phù hợp với từng thị trường.
-
Nhờ minh bạch thông tin trong áp dụng quản lý rủi ro, cơ quan Hải quan tạo niềm tin cho DN về việc tuân thủ tốt pháp luật sẽ được tạo thuận lợi hơn trong hoạt động XNK.
-
Xuất khẩu tăng trưởng; nhập khẩu được kiểm soát; xuất siêu duy trì – hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa đang nối dài thành tích của những tháng trước đây bằng những con số tăng trưởng ấn tượng.
-
Ngành thương mại Thành phố Hồ Chí Minh từng bước xây dựng hạ tầng bán lẻ, đa dạng mô hình kinh doanh, nhất là đảm bảo yêu cầu chuyển đổi số của thị trường và thị hiếu tiêu dùng.