Tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình thực thi hiệp định EVFTA trong hoạt động xuất khẩu Rau quả của việt nam sang thị trường EU trong 8 tháng đầu năm 2025
Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang các thị trường thành viên Hiệp định EVFTA trong tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2025 tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực. Riêng trong tháng 8/2025, kim ngạch xuất khẩu rau quả sang EU đạt 45,47 triệu USD, tuy giảm nhẹ 6,76% so với tháng trước do yếu tố mùa vụ và nhu cầu nhập khẩu chững lại ở một số thị trường lớn, song vẫn tăng mạnh tới 72,34% so với cùng kỳ năm 2024. Mức tăng ấn tượng này cho thấy khả năng duy trì sức cạnh tranh của rau quả Việt Nam giữa bối cảnh thị trường châu Âu ngày càng khắt khe về tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

Tính chung 8 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu rau quả sang EU đạt 328,29 triệu USD, tăng tới 52,85% so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng vượt trội so với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu rau quả chung của Việt Nam ra thế giới (chỉ 2,01%). Kết quả này phản ánh sự chuyển dịch tích cực của ngành rau quả Việt Nam sang các thị trường có giá trị cao, đồng thời cho thấy nỗ lực của doanh nghiệp trong việc tận dụng hiệu quả ưu đãi thuế quan từ Hiệp định EVFTA. Nhiều mặt hàng chủ lực như thanh long, chuối, xoài, dừa, chanh leo và các sản phẩm rau quả chế biến đã dần khẳng định chỗ đứng tại các thị trường khó tính như Đức, Hà Lan, Pháp...
Trong bức tranh xuất khẩu rau quả của Việt Nam năm 2025, thị trường các nước thành viên Hiệp định EVFTA có đóng góp không nhỏ. Theo số liệu thống kê từ Hải quan Việt Nam, tháng 8/2025, Việt Nam đã xuất khẩu ra thế giới 951,13 triệu USD mặt hàng rau quả, tăng 24,36% so với tháng trước và tăng 12,75% so với cùng kỳ năm 2024. Lũy kế 8 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 4,82 tỷ USD, tăng 2,01% so với cùng kỳ, cho thấy xu hướng tăng trưởng ổn định của ngành hàng này bất chấp những biến động kinh tế thế giới.
Xét theo từng thị trường, Hà Lan tiếp tục là cửa ngõ trung chuyển và thị trường tiêu thụ lớn nhất, đạt 110,22 triệu USD trong 8 tháng, tăng 38,61% so với cùng kỳ, chiếm 33,57% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả sang EVFTA, dù tỷ trọng có giảm nhẹ so với năm 2024. Đức đứng thứ hai với 55,09 triệu USD, tăng 31,92%, chiếm 16,78% nhưng cũng giảm thị phần so với cùng kỳ. Trong khi đó, Pháp ghi nhận mức tăng trưởng khả quan, đạt 38,48 triệu USD, tăng 38,45% so với cùng kỳ, chiếm 11,72% tổng kim ngạch, song vẫn thấp hơn mức tỷ trọng của năm trước. Nhìn chung, dù ba thị trường lớn vẫn duy trì vai trò chủ lực, song tỷ trọng của các thị trường có xu hướng giảm, cho thấy sự phân bổ lại dòng xuất khẩu khi Việt Nam dần mở rộng sang các thị trường thành viên khác.
- Xem chi tiết tại đây;
Thực hiện: Trần Thùy Ngân
-
Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU, ngành giày dép Việt Nam được dự báo sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức. Đặc biệt, việc Indonesia đang đàm phán Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với EU có thể đưa nước này trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam nếu thỏa thuận chính thức được ký kết.
-
Theo số liệu của hải quan Việt Nam, xuất khẩu sắt thép của Việt Nam tháng 8/2025 đạt 0,65 triệu tấn với trị giá 432,3 triệu USD, giảm 17,5% về lượng và giảm 20,9% về trị giá so với tháng 7/2025; giảm tới 52,3% về lượng và giảm 54,1% về trị giá so với cùng tháng 8/2024. Tính chung 8 tháng đầu năm nay, lượng sắt thép xuất khẩu chỉ đạt 7,08 triệu tấn với trị giá gần 4,7 tỷ USD, giảm 20,3% về lượng và 28% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.
-
Theo số liệu của Cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 8/2025 đạt 83,06 tỷ USD, tăng 16,11% so với cùng tháng 8/2024. Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 43,39 tỷ USD, tăng 2,6% so với tháng 7/2025 và tăng 14,8% so với tháng 8/2024; trị giá nhập khẩu đạt 39,67 tỷ USD, giảm 0,82% so với tháng 7/2025 nhưng tăng 17,57% so với tháng 8/2024.
-
Tổng kim ngạch xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm 2025 đạt gần 7,2 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm trước. Tôm tiếp tục là mặt hàng chủ lực với mức tăng trưởng cao gần 23%, cho thấy khả năng giữ vững vị thế và chất lượng sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm giá trị gia tăng





