Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng 12 và năm 2025
1. Đánh giá chung
Tháng 12/2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa đạt mức kỷ lục 88,74 tỷ USD, tăng 15,1%, tương ứng tăng 11,64 tỷ USD so với tháng trước.
Trong đó, xuất khẩu là 44,05 tỷ USD, tăng 12,6%, tương ứng tăng 4,94 tỷ USD và nhập khẩu là 44,69 tỷ USD, tăng 17,6%, tương ứng tăng 6,7 tỷ USD.
Năm 2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 930,07 tỷ USD, tăng 18,2%, tương ứng tăng 143,14 tỷ USD so với năm trước. Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 475,06 tỷ USD, tăng 17%, tương ứng tăng 69,12 tỷ USD và trị giá nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4%, tương ứng tăng 74,02 tỷ USD so với năm trước.
Cán cân thương mại hàng hóa tháng 12/2025 thâm hụt 637 triệu USD, đưa mức thặng dư của cả năm 2025 lên 20,05 tỷ USD, giảm 19,6% so với mức thặng dư 24,95 tỷ USD của năm trước.
Trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong năm 2025 đạt 683,35 tỷ USD, tăng 28,9% (tương ứng tăng 153,3 tỷ USD) so với năm trước. Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 365,72 tỷ USD, tăng 26,4% tương ứng tăng 76,42 tỷ USD và trị giá nhập khẩu là 317,63 tỷ USD, tăng 31,9% tương ứng tăng 76,88 tỷ USD so với năm 2024.
Trong khi đó, xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp trong nước năm 2025 chỉ đạt 246,72 tỷ USD, giảm 4% so với năm trước, tương ứng giảm 10,16 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt 109,34 tỷ USD, giảm 6,3%, tương ứng giảm 7,3 tỷ USD và nhập khẩu đạt 137,37 tỷ USD, giảm 2%, tương ứng giảm 2,86 tỷ USD.
1. Thị trường xuất nhập khẩu
Về thị trường xuất khẩu:
Biểu đồ 1: 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong năm 2024 và năm 2025

- Thị trường Hoa Kỳ: năm 2025, tổng trị giá xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt 153,18 tỷ USD, tăng 28,2%, tương ứng tăng tới 33,66 tỷ USD so với năm trước.
Xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ trong năm 2025 tăng mạnh ở các nhóm hàng như: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 42,09 tỷ USD, tăng 81,4% (tương ứng tăng 18,8 tỷ USD) so với năm trước; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 24,13 tỷ USD, tăng 9,4% (tương ứng tăng 2,07 tỷ USD); hàng dệt may đạt 17,88 tỷ USD, tăng 10,7% (tương ứng tăng 1,73 tỷ USD). Đặc biệt, nhóm hàng đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 6,42 tỷ USD, gấp 3,6 lần so với năm trước (tương ứng tăng 4,64 tỷ USD)…
- Trung Quốc: năm 2025, trị giá xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 70,45 tỷ USD, tăng 14,8%, tương ứng tăng 9,08 tỷ USD so với năm trước.
Xuất khẩu một số nhóm hàng sang Trung Quốc trong năm 2025 tăng mạnh so với năm trước như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 16,89 tỷ USD, tăng 33,6% (tương ứng tăng 4,24 tỷ USD), hàng rau quả đạt 5,5 tỷ USD, tăng 18,8% (tương ứng tăng 873 triệu USD), hàng thủy sản đạt 2,28 tỷ USD, tăng 31,9% (tương ứng tăng 552 triệu USD)…
- Hàn Quốc: năm 2025, xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc đạt 28,94 tỷ USD, tăng 12,7%, tương ứng tăng 3,27 tỷ USD so với năm trước.
- Nhật Bản: năm 2025, xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản là 26,77 tỷ USD, tăng 8,8%, tương ứng tăng 2,16 tỷ USD so với năm trước.
- Hồng Kông: năm 2025, xuất khẩu sang Hồng Kông đạt 17,56 tỷ USD, tăng 41,3%, tương ứng tăng 5,13 tỷ USD so với năm trước.
Xuất khẩu sang Hồng Kông tăng cao, chủ yếu do xuất khẩu nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 2,66 tỷ USD và nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 2,39 tỷ USD so với năm trước.
- EU(27 nước): năm 2025, xuất khẩu sang EU (27 nước) đạt 56,18 tỷ USD, tăng 8,6%, tương ứng tăng 4,43 tỷ USD so với năm trước.
- ASEAN: năm 2025, xuất khẩu sang thị trường ASEAN là 38,4 tỷ USD, tăng 3,8%, tương ứng tăng 1,41 tỷ USD so với năm trước.
Về thị trường nhập khẩu:
- Thị trường Trung Quốc: trong năm 2025, tổng trị giá nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc đạt 186,03 tỷ USD, tăng 28,9%, tương ứng tăng 41,7 tỷ USD so với năm trước và chiếm tới 40,9% trong tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.
Trong đó, tăng mạnh nhất là các nhóm hàng như nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 52,89 tỷ USD, tăng 52,6% (tương ứng tăng 18,24 tỷ USD); máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 38,59 tỷ USD, tăng 33,2% (tương ứng tăng 9,63 tỷ USD); sản phẩm từ chất dẻo đạt 6,85 tỷ USD, tăng 34,2% (tương ứng tăng 1,75 tỷ USD) so với năm trước. Tuy nhiên, nhập khẩu sắt thép các loại sang Trung Quốc trong năm 2025 lại giảm tới 22,5% (tương ứng giảm 1,68 tỷ USD) và đạt 5,81 tỷ USD.
- Hàn Quốc: trị giá nhập khẩu từ Hàn Quốc trong năm 2025 đạt 60,54 tỷ USD, tăng 7,6%, tương ứng tăng 4,26 tỷ USD so với năm trước.
- Đài Loan: trị giá nhập khẩu từ Đài Loan trong năm 2025 đạt 33,03 tỷ USD, tăng mạnh 45,1%, tương ứng tăng 10,27 tỷ USD so với năm trước.
Nhập khẩu từ Đài Loan tăng cao, nguyên nhân chính do nhập khẩu nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện từ thị trường này đạt 23,71 tỷ USD, tăng tới 71% (tương ứng tăng 9,85 tỷ USD) so với năm trước.
- Nhật Bản: trị giá nhập khẩu từ Nhật Bản trong năm 2025 đạt 24,68 tỷ USD, tăng 13,6%, tương ứng tăng 2,96 tỷ USD so với năm trước.
- Hoa Kỳ: trị giá nhập khẩu từ Hoa Kỳ trong năm 2025 đạt mức cao nhất từ trước tới nay với 19,29 tỷ USD, tăng tới 27,6%, tương ứng tăng 4,17 tỷ USD so với năm trước.
Trong đó, tăng mạnh nhất là các nhóm hàng như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 5,46 tỷ USD, tăng 25,9% (tương ứng tăng 1,12 tỷ USD); bông các loại đạt 1,37 tỷ USD, tăng 101% ( tương ứng tăng 685 triệu USD); khí đốt hóa lỏng đạt 938 triệu USD, tăng 238% (tương ứng tăng 660 triệu USD) so với năm trước.
- ASEAN: trị giá nhập khẩu từ ASEAN trong năm 2025 đạt 52,59 tỷ USD, tăng 12%, tương ứng tăng 5,62 tỷ USD so với năm trước.
- EU(27 nước): trị giá nhập khẩu từ EU (27 nước) trong năm 2025 đạt 17,64 tỷ USD, tăng 5,3%, tương ứng tăng 888 triệu USD so với năm trước.
Biểu đồ 2: 10 thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong năm 2024 và năm 2025

2. Xuất khẩu hàng hóa
Trị giá xuất khẩu hàng hóa trong tháng 12/2025 đạt 44,05 tỷ USD, tăng 12,6%, tương ứng tăng tới 4,94 tỷ USD so với tháng trước.
Đây là lần đầu tiên xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt mốc trên 44 tỷ USD/tháng. Một số nhóm hàng xuất khẩu trong tháng cũng đạt mốc kỷ lục mới như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện vượt ngưỡng 10 tỷ USD/tháng, đạt 10,74 tỷ USD; hàng dệt may đạt 3,65 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,66 tỷ USD; giày dép các loại đạt 2,2 tỷ USD…
Xuất khẩu hàng hóa trong tháng 12/2025 có tới 40/45 nhóm hàng tăng so với tháng trước. Trong đó, có tới 7 nhóm hàng trị giá xuất khẩu tăng mạnh trên 30% so với tháng trước là nhóm hàng quặng và khoáng sản khác tăng 90,3%; cà phê tăng 86,8%; sản phẩm mây, tre, cói, thảm tăng 43,5%; sắn và sản phẩm từ sắn tăng 42,6%; than các loại tăng 40,4%; gạo tăng 30,8%; sản phẩm hóa chất tăng 30,5%. Tuy nhiên, xuất khẩu nhóm hàng đá quý, kim loại quý và sản phẩm trong tháng 12/2025 lại giảm 15,9% so với tháng trước.
Tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa trong năm 2025 đạt 475,06 tỷ USD, tăng 17% so với năm trước.
Xét về số tuyệt đối, quy mô hàng hóa xuất khẩu trong năm 2025 đã tăng tới 69,12 tỷ USD so với năm trước.
Biểu đồ 3: 10 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong năm 2024 và năm 2025

Xét về số tương đối, trong năm 2025, có 33/45 nhóm hàng xuất khẩu tăng so với năm trước. Trong đó, 4 nhóm hàng có trị giá xuất khẩu tăng cao trên 30% là: đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận tăng 148,2%; cà phê tăng 58,8%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 48,4%; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 38,5%. Bên cạnh đó, trị giá xuất khẩu xăng dầu các loại giảm mạnh tới 50,8% so với năm trước.
Một số nhóm hàng xuất khẩu chính
- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 12/2025 đạt 10,74 tỷ USD, qua đó nâng mức trị giá xuất khẩu trong năm 2025 đạt 107,75 tỷ USD, chiếm tới 23% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước và tăng 48,4% (tương ứng tăng 35,15 tỷ USD) so với năm trước.
Với kết quả này, nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giữ vững vị trí số 1 về trị giá xuất khẩu và đóng góp tới hơn 1/2 vào mức tăng trị giá xuất khẩu của cả nước.
Trong năm 2025, xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện sang Hoa Kỳ đạt 42,09 tỷ USD, tăng tới 81,4%, tương ứng tăng 18,88 tỷ USD so với năm trước. Tiếp theo, xuất sang Trung Quốc với 16,89 tỷ USD, tăng 33,6% (tương ứng tăng 4,24 tỷ USD); Hồng Kông với 10,82 tỷ USD, tăng 32,7% (tương ứng tăng 2,66 tỷ USD); EU(27 nước) với 10,89 tỷ USD, tăng 9,9% (tương ứng tăng 981 triệu USD) so với năm trước.
- Điện thoại các loại và linh kiện: xuất khẩu nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện trong tháng 12/2025 là 4,05 tỷ USD, tăng 1,6% so với tháng trước. Tính chung, năm 2025, trị giá xuất khẩu nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện đạt 56,71 tỷ USD, tăng 5,2% (tương ứng tăng 2,82 tỷ USD) so với năm trước.
Xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện trong năm 2025 chủ yếu sang các thị trường như Trung Quốc với 15,05 tỷ USD, giảm 2,5%; Hoa Kỳ với 9,86 tỷ USD, tăng 0,4%; EU(27 nước) với 6,9 tỷ USD, tăng 9,9%; ASEAN đạt 2,15 tỷ USD, tăng 4,8% so với năm trước. Bên cạnh đó, xuất khẩu nhóm hàng này sang thị trường Ấn Độ và Nhật Bản lại tăng cao, lần lượt từng thị trường tăng 27,1% và 19,2%.
- Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác: trị giá xuất khẩu nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng trong tháng 12/2025 là 5,59 tỷ USD, tăng 13,3% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng trong năm 2025 đạt 59,05 tỷ USD, tăng 13,2% (tương ứng tăng 6,88 tỷ USD) so với năm trước.
Xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng trong năm 2025 chủ yếu sang các thị trường như Hoa Kỳ với 24,13 tỷ USD, tăng 9,4%; EU(27 nước) với 7,42 tỷ USD, tăng 0,8%; Trung Quốc với 5,52 tỷ USD, tăng 64,3%; ASEAN đạt 3,83 tỷ USD, tăng 12,8%; Hồng Kông với 3,68 tỷ USD, tăng 186% so với năm trước.
- Hàng dệt may: tháng 12/2025, xuất khẩu hàng dệt may đạt 3,65 tỷ USD, tăng 22,9% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu hàng dệt may trong năm 2025 đạt 39,64 tỷ USD, tăng 7% (tương ứng tăng 2,6 tỷ USD) so với năm trước.
Trong năm 2025, xuất khẩu nhóm hàng dệt may sang Hoa Kỳ đạt 17,88 tỷ USD, tăng 10,7% (tương ứng tăng 1,73 tỷ USD); EU (27 nước) đạt 4,79 tỷ USD, tăng 10,7% (tương ứng tăng 462 triệu USD); Nhật Bản đạt 4,6 tỷ USD, tăng 6,1% (tương ứng tăng 266 triệu USD) và Hàn Quốc đạt 2,89 tỷ USD, giảm 8,4% (tương ứng giảm 263 triệu USD) so với năm trước.
- Giày dép các loại: tháng 12/2025, xuất khẩu giày dép các loại đạt 2,2 tỷ USD, tăng 5,9% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu giày dép các loại trong năm 2025 đạt 24,2 tỷ USD, tăng 5,8% (tương ứng tăng 1,33 tỷ USD) so với năm trước.
Xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ là 9,03 tỷ USD, tăng 9% (tương ứng tăng 743 triệu USD) và EU (27 nước) là 6,09 tỷ USD, tăng 4,6% (tương ứng tăng 269 triệu USD). Tính chung, trị giá xuất khẩu giày dép các loại sang 2 thị trường này chiếm 62% trong tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Bên cạnh đó, xuất khẩu giày dép các loại sang Trung Quốc là 1,61 tỷ USD, giảm 15,9% (tương ứng giảm 304 triệu USD) so với năm trước.
- Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận: trị giá xuất khẩu đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận trong tháng 12/2025 đạt 942 triệu USD, qua đó nâng tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2025 đạt tới 9,33 tỷ USD, tăng 148,2% (tương ứng tăng 5,57 tỷ USD) so với năm trước.
Trong năm 2025, nhóm hàng đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận xuất sang thị trường Hoa Kỳ đạt 6,42 tỷ USD, gấp 3,6 lần so với năm trước và chiếm tới gần 70% tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
- Gỗ và sản phẩm gỗ: xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 12/2025 đạt 1,66 tỷ USD, tăng 11,6% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2025 đạt 17,2 tỷ USD, tăng 5,7% (tương ứng tăng 925 triệu USD) so với năm trước.
Trong năm 2025, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, với 9,46 tỷ USD, tăng 4,4% so với năm trước và chiếm 55% trong tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 2,15 tỷ USD, tăng 23,3% và Trung Quốc đạt 2,09 tỷ USD, tăng 3,5% so với năm trước.
- Hàng thủy sản: tháng 12/2025, xuất khẩu hàng thủy sản là 954 triệu USD, giảm 3,6% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2025 đạt 11,29 tỷ USD, tăng 12,4%, tương ứng tăng 1,25 tỷ USD so với năm trước.
Năm 2025, Trung Quốc chính thức vượt Hoa Kỳ, trở thành thị trường xuất khẩu hàng thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Cụ thể, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đạt 2,28 tỷ USD, tăng mạnh 31,9% so với năm trước; tiếp theo, xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 1,91 tỷ USD, tăng 4,1%. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 1,69 tỷ USD, tăng 10,3%; EU (27 nước) đạt 1,17 tỷ USD, tăng 12,3% so với năm trước.
- Cà phê: lượng cà phê xuất khẩu trong tháng 12/2025 đạt 183 nghìn tấn, qua đó nâng lượng khẩu nhóm hàng này trong năm 2025 đạt 1,59 triệu tấn, tăng 18,3% so với năm trước. Đồng thời, đơn giá bình quân xuất khẩu cà phê đạt 5.604 USD/tấn, tăng 34,2% nên trị giá xuất khẩu đạt 8,92 tỷ USD, tăng tới 58,8% (tương ứng tăng 3,3 tỷ USD) so với năm trước.
Trong năm 2025, cà phê chủ yếu được xuất sang thị trường EU (27 nước) với lượng xuất khẩu đạt 680 nghìn tấn, tăng 26,9% so với năm trước và chiếm 43% trong tổng lượng xuất khẩu cà phê của cả nước. Bên cạnh đó, xuất khẩu cà phê sang ASEAN là 152 nghìn tấn, giảm 16,5%; Nhật Bản là 98,7 nghìn tấn, tăng 5,1%; Hoa Kỳ là 95,3 nghìn tấn, tăng 17,1% so với năm trước.
- Gạo: trong tháng 12/2025, xuất khẩu gạo là 522 nghìn tấn, tăng 39,6% so với tháng trước. Tính chung, năm 2025, lượng gạo xuất khẩu đạt 8,06 triệu tấn, giảm 10,8% so với năm trước và trị giá xuất khẩu gạo đạt 4,1 tỷ USD, giảm 27,6% (tương ứng giảm 1,56 tỷ USD) so với năm trước.
Gạo của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường ASEAN với 3,97 triệu tấn, chiếm 51% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước và giảm 38,2% so với năm trước. Trong đó, xuất khẩu gạo sang Philippin là 3,21 triệu tấn, giảm 24%; Malaixia với 515 nghìn tấn, giảm 28,4%; Inđônêxia là 47,3 nghìn tấn, giảm tới 96,2% so với năm trước.
Bên cạnh đó, xuất khẩu sang Bờ Biển Ngà đạt 1,06 triệu tấn, tăng 118,5%; Ghana đạt 919 nghìn tấn, tăng 50% và Trung Quốc là 747 nghìn tấn, tăng 162% so với năm trước.
- Hàng rau quả: xuất khẩu hàng rau quả trong tháng 12/2025 đạt 794 triệu USD, tăng 13,2% so với tháng trước. Tính chung, trị giá xuất khẩu hàng rau quả trong năm 2025 đạt 8,56 tỷ USD, tăng 19,8% (tương ứng tăng 1,42 tỷ USD) so với năm trước.
Hàng rau quả của nước ta chủ yếu được xuất sang Trung Quốc với 5,5 tỷ USD, tăng 18,8% so với năm trước và chiếm tới 64% trong tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Trong đó xuất khẩu sầu riêng (mã HS 081060) sang Trung Quốc đạt 3,23 tỷ USD, tăng 11% so với năm trước.
Bên cạnh đó, xuất khẩu hàng rau quả sang Hoa Kỳ trong năm 2025 tăng mạnh, đạt 547 triệu USD, tăng tới 51,8% (tương ứng tăng 186 triệu USD) so với năm trước.
- Sắt thép các loại: lượng sắt thép xuất khẩu trong tháng 12/2025 đạt 845 nghìn tấn, qua đó nâng lượng xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2025 đạt 10,06 triệu tấn, giảm 20,3% và trị giá đạt 6,63 tỷ USD, giảm 27% (tương ứng giảm 2,45 tỷ USD) so với năm trước.
Sắt thép các loại chủ yếu xuất khẩu sang ASEAN đạt 3,42 triệu tấn, tăng nhẹ 2,6% so với năm trước; EU (27 nước) đạt 2,32 triệu tấn, giảm 33,6%; Hoa Kỳ đạt 807 nghìn tấn, giảm 51,7%.
- Dầu thô: lượng dầu thô xuất khẩu trong tháng 12/2025 đạt 238 nghìn tấn, qua đó nâng lượng xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2025 đạt 2,48 triệu tấn, giảm 4,5% và trị giá đạt 1,39 tỷ USD, giảm 19,3% (tương ứng giảm 334 triệu USD) so với năm trước.
Dầu thô chủ yếu xuất khẩu sang Ôxtrâylia là 1,18 triệu tấn, tăng 46,1% so với năm trước; trong khi đó xuất sang ASEAN là 798 nghìn tấn, giảm mạnh 29,2% và xuất sang Nhật Bản là 74,8 nghìn tấn, giảm tới 61%.
- Xăng dầu các loại: lượng xăng dầu các loại xuất khẩu trong tháng 12/2025 đạt 129 nghìn tấn, qua đó nâng lượng xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2025 đạt 1,38 triệu tấn, giảm 42% và trị giá đạt 942 triệu USD, giảm mạnh 50,8% (tương ứng giảm 972 triệu USD) so với năm trước.
Trong năm 2025, xuất khẩu xăng dầu các loại sang thị trường ASEAN giảm, trong khi đó xuất sang Hàn Quốc và Trung Quốc lại tăng mạnh. Cụ thể, lượng xuất khẩu sang thị trường ASEAN là 717 nghìn tấn, giảm 14,5% so với năm trước; Hàn Quốc là 315 nghìn tấn, tăng 27,5%; Trung Quốc là 293 nghìn tấn, tăng 42,7%.
4. Nhập khẩu hàng hóa
Trị giá nhập khẩu hàng hóa trong tháng 12/2025 đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6% (tương ứng tăng 6,7 tỷ USD) so với tháng trước. Đây là tháng có trị giá nhập khẩu cao nhất từ trước đến nay và là tháng thứ 2 trong năm có trị giá nhập khẩu vượt mốc 40 tỷ USD.
Trong năm 2025, tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4%, tương ứng tăng 74,02 tỷ USD so với năm 2024.
Biểu đồ 8: 10 nhóm hàng có trị giá nhập khẩu cao nhất trong năm 2024 và năm 2025

Trong năm 2025, nhập khẩu hàng hóa có 41/53 nhóm hàng chủ lực tăng so với năm trước. Trong đó, tăng mạnh nhất là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 43,58 tỷ USD, tương ứng tăng 40,7%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 12,13 tỷ USD, tương ứng tăng 24,8%; kim loại thường khác tăng 1,81 tỷ USD, tương ứng tăng 18,9%; sản phẩm từ sắt thép tăng 1,81 tỷ USD, tăng 27,9%.
Một số nhóm hàng nhập khẩu chính
- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: nhập khẩu nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện trong tháng 12 đạt 14,26 tỷ USD, tăng 10,5% tương ứng tăng 1,36 tỷ USD so với tháng trước.
Trong năm 2025, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước lần đầu tiên vượt mức 150 tỷ USD, đạt 150,7 tỷ USD, tăng 40,7%, tương ứng tăng 43,58 tỷ USD so với năm trước. Trong đó, trị giá nhập khẩu của khối FDI là 106,16 tỷ USD, tăng 51,9%, tương ứng tăng 36,26 tỷ USD và của khối doanh nghiệp trong nước là 1,59 tỷ USD, giảm 41,1%, tương ứng giảm gần 1,11 tỷ USD so với năm 2024.
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nhóm hàng này từ các thị trường: Trung Quốc đạt 52,89 tỷ USD, tăng 52,6%, tương ứng tăng 18,24 tỷ USD; Hàn Quốc đạt 37,91 tỷ USD, tăng 18,9%, tương ứng tăng 6,02 tỷ USD; Đài Loan đạt 23,71 tỷ USD, tăng 71%, tương ứng tăng 9,85 tỷ USD so với năm trước.
- Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng: trị giá nhập khẩu của nhóm hàng trên tháng 12/2025 là 6,21 tỷ USD, tăng 19% so với tháng trước và là tháng có trị giá nhập khẩu cao nhất trong năm. Nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng trong năm 2025 xác lập kỷ lục mới với trị giá nhập khẩu đạt 61,03 tỷ USD, tăng 24,8% so với năm trước, tương ứng tăng 12,13 tỷ USD và chiếm tỷ trọng 13% trong tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.
Trung Quốc là thị trường lớn nhất cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam trong năm 2025 với trị giá đạt 38,59 tỷ USD, tăng 33,2%, tương ứng tăng 9,63 tỷ USD; tiếp theo là các thị trường Nhật Bản với 4,89 tỷ USD, tăng 21,7%, tương ứng tăng 871 triệu USD; Hàn Quốc với 4,77 tỷ USD, giảm 9,4%, tương ứng giảm 497 triệu USD so với năm 2024.
Biểu đồ 9: Nhập khẩu hai nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng trong giai đoạn 2020-2025

- Sắt thép các loại và sản phẩm: trị giá nhập khẩu của nhóm hàng này trong tháng 12 đạt 2,08 tỷ USD, tăng 17,7% so với tháng trước, tương ứng tăng 313 triệu USD. Trong năm 2025, trị giá nhập khẩu sắt thép các loại và sản phẩm đạt 19,52 tỷ USD, tăng 2,3% (tương ứng tăng 438 triệu USD) so với năm 2024. Trong đó, trị giá nhập khẩu của sắt thép các loại đạt 11,21 tỷ USD, giảm 10,9% nhưng trị giá nhập khẩu của sản phẩm từ sắt thép đạt 8,31 tỷ USD, tăng 27,9%, tương ứng tăng 1,81 tỷ USD.
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu sắt thép các loại và sản phẩm từ các thị trường: Trung Quốc với trị giá đạt 11,87 tỷ USD, giảm 1,4% (tương ứng giảm 162 triệu USD), Hàn Quốc đạt 2,06 tỷ USD, tăng 5,1% (tương ứng tăng 99 triệu USD), Nhật Bản đạt 1,88 tỷ USD, xấp xỉ với trị giá nhập khẩu của năm 2024.
- Kim loại thường và sản phẩm: trị giá nhập khẩu của nhóm hàng này trong tháng 12 dạt 1,6 tỷ USD, tăng 11,3%, tương ứng tăng 162 triệu USD so với tháng trước. Như vậy, trong năm 2025 cả nước đã nhập khẩu 16,22 tỷ USD kim loại thường và sản phẩm, tăng 27%, tương ứng tăng 3,45 tỷ USD so với năm trước.
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu kim loại thường và sản phẩm từ các thị trường: Trung Quốc đạt 7,76 tỷ USD, tăng 46,5%, tương ứng tăng 2,46 tỷ USD; Hàn Quốc đạt 1,72 tỷ USD, giảm 0,8%, tương ứng giảm 14 triệu USD so với năm 2024
- Nhóm nhiên liệu (bao gồm than các loại, dầu thô, xăng dầu các loại và khí đốt hóa lỏng): Lượng nhập khẩu nhóm hàng nguyên nhiên liệu trong tháng 12/2025 đạt 7,78 triệu tấn, tăng 40,5% so với tháng trước (tương ứng tăng 2,24 triệu tấn). Tính chung trong năm 2025 lượng nhập khẩu nhóm hàng này đạt 93,17 triệu tấn, tăng 2,8% so với năm trước nhưng trị giá nhập khẩu lại giảm 9,3%, đạt 23,27 tỷ USD.
Trong đó, lượng nhập khẩu của than các loại là 65,43 triệu tấn, tăng 2,6% nhưng trị giá chỉ đạt 6,55 tỷ USD, giảm 14%; lượng nhập khẩu dầu thô các loại đạt 14,152 triệu tấn, tăng 5,3% nhưng trị giá chỉ đạt 7,74 tỷ USD, giảm 4,6%; lượng nhập khẩu khí đốt hóa lỏng là 3,63 triệu tấn, tăng 16,6% và trị giá đạt 2,15 tỷ USD, tăng 5,4% so với năm trước.
Đối với xăng dầu các loại, lượng nhập khẩu trong năm 2025 là 9,96 triệu tấn với trị giá đạt 6,82 tỷ USD, lần lượt giảm 3,4% về lượng và 13,5% về trị giá so với năm 2024.
Trong đó, lượng dầu diesel nhập về đạt 5,01 triệu tấn, giảm 0,7% và chiếm 50% lượng xăng dầu các loại nhập khẩu của cả nước; lượng xăng nhập về đạt 2,26 triệu tấn, giảm 17,9% lần và chiếm 23%; lượng nhiên liệu bay nhập về đạt 2,18 triệu tấn, tăng 10,9% và chiếm 22% lượng nhập khẩu xăng dầu của cả nước.
Lượng nhập khẩu nguyên nhiêu liệu vào Việt Nam trong năm 2025 chủ yếu từ Inđônêxi a là 26,19 triệu tấn, giảm 4,4%; Ôxtrâylia là 21,91 triệu tấn, tăng 25,3% và từ Côoét là 11,44 triệu tấn, giảm 3,8%.
- Nguyên phụ liệu ngành dệt may, da giày (bao gồm vải, bông, xơ sợi dệt các loại và nguyên phụ liệu dệt may, da giày: nhập khẩu nhóm hàng nguyên phụ liệu cho ngành dệt may, da giày (bao gồm bông các loại; vải các loại; xơ sợi dệt các loại và nguyên phụ liệu dệt may da giày) trong tháng 12/2025 đạt 2,61 tỷ USD, tăng 13,8% so với tháng trước, tương ứng tăng 316 triệu USD.
Tính chung trong năm 2025, tổng trị giá nhập khẩu của nhóm hàng này đạt 28,32 tỷ USD, tăng 2,3%, tương ứng tăng 649 triệu USD so với năm 2024.
Trung Quốc là thị trường lớn nhất cung cấp nhóm hàng nguyên phụ liệu phục vụ ngành dệt may da giày cho Việt Nam trong năm 2025 (chiếm tỷ trọng gần 50%) với 16,67 tỷ USD, tăng 6,9%, tương ứng tăng 1,07 tỷ USD so với năm 2024. Tiếp theo là các thị trường: Đài Loan với 2,09 tỷ USD, tăng 0,4%; Hàn Quốc với 1,94 tỷ USD, giảm 9,3%; Hoa Kỳ với 1,88 tỷ USD, tăng mạnh 56,6%.
- Ô tô nguyên chiếc và linh kiện phụ tùng ô tô: Lượng ô tô nguyên chiếc các loại nhập khẩu về Việt Nam trong tháng là 14.707 chiếc, giảm 19,9% so với tháng trước. Trong năm 2025 lượng xe ô tô nguyên chiếc các loại nhập khẩu là 205.630 chiếc, tăng 18,6%, tương ứng tăng 32.207 chiếc so với năm trước.
Trong năm 2025, ô tô nguyên chiếc các loại nhập khẩu về Việt Nam chủ yếu là ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống với 152.854 chiếc, tăng 7,1%, tương ứng tăng 10.108 chiếc; tiếp theo là ô tô tải đạt 28.338 chiếc, tăng 88,9% lần, tương ứng tăng 13.333 chiếc; ô tô loại khác là 24.368 chiếc, tăng 59,7%, tương ứng tăng 9.109 chiếc so với năm 2024. Riêng ô tô trên 9 chỗ ngồi trong năm 2025, Việt Nam chỉ nhập về 70 chiếc.
Ô tô nguyên chiếc các loại nhập khẩu về Việt Nam trong năm 2025 chủ yếu có xuất xứ từ Inđônêxia và Thái Lan, chiếm 71% tổng lượng nhập khẩu của cả nước. Trong đó: nhập khẩu từ Inđônêxia là 78.156 chiếc, tăng 10,5%; nhập khẩu từ Thái Lan là 66.109 chiếc, tăng 3,7% so với năm 2024.
- Hóa chất và sản phẩm từ hóa chất: trong tháng 12, trị giá nhập khẩu của nhóm hàng hóa chất và sản phẩm từ hóa chất đạt 1,62 tỷ USD, tăng 21,6% (tương ứng tăng 289 triệu USD) so với tháng trước. Trong năm 2024, nhập khẩu của nhóm hàng này đạt 16,2 tỷ USD, tăng 1,1% (tương ứng tăng 175 triệu USD) so với năm trước.
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu hóa chất và sản phẩm từ hóa chất từ thị trường Trung Quốc với trị giá nhập khẩu đạt 6,95 tỷ USD, tăng 7,4%, tương ứng tăng 477 triệu USD và chiếm 42% trị giá nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc: trị giá nhập khẩu tháng 12 của nhóm hàng này tăng mạnh 25,9% so với tháng trước, đạt 987 triệu USD. Tính chung cả năm 2025, cả nước đã nhập khẩu 10,21 tỷ USD nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc, giảm 4,1% so với năm trước, tương ứng giảm 437 triệu USD.
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nhóm hàng này từ các thị trường như: Braxin đạt 2,27 tỷ USD, giảm 11,7%, tương ứng giảm 299 triệu USD; Hoa Kỳ đạt 2,03 tỷ USD, tăng 23,1%, tương ứng tăng 381 triệu USD...
TỔNG QUAN SỐ LIỆU THỐNG KÊ HẢI QUAN
VỀ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ THÁNG 12 VÀ NĂM 2025

Nguồn: Cục Hải quan Việt nam
-
Ngành tôm Indonesia trải qua một trong những giai đoạn biến động mạnh nhất trong nhiều năm trở lại đây. Dù tổng sản lượng xuất khẩu giảm nhẹ, giá trị vẫn tăng trưởng, phản ánh nỗ lực duy trì giá bán và cơ cấu sản phẩm của quốc gia xuất khẩu tôm lớn thứ tư thế giới. Đặc biệt, sự cố liên quan đến Cesium-137 trong quý III/2025 đã tạo ra cú sốc ngắn hạn, nhưng cũng bộc lộ rõ khả năng thích ứng và tái cơ cấu thị trường của Indonesia.
-
Xuất khẩu cá ngừ Việt Nam đang phát tín hiệu phục hồi, đặc biệt tại EU. Nhu cầu sản phẩm tiện lợi, cá ngừ hấp đông lạnh phục vụ chế biến được dự báo tăng trở lại.
-
Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt kỷ lục là minh chứng cho sự chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ và kịp thời của Bộ Công Thương trong suốt thời gian qua.
-
Việt Nam và Lào là hai quốc gia láng giềng cùng chí hướng, chung khát vọng, chung không gian sinh tồn và phát triển. Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Lào đã có bề dày truyền thống trên 60 năm, được xây dựng và phát triển trên nền tảng mối quan hệ gắn bó mật thiết keo sơn mà hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước đã dày công vun đắp.








