Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị từ Trung Quốc cao gấp 10 lần kim ngạch xuất khẩu
Trong tháng 01/2022, Việt Nam chỉ xuất khẩu sang Trung Quốc 207,6 triệu USD trị giá máy móc thiết bị. Trong khi đó, nhập khẩu máy móc thiết bị từ thị trường này đạt hơn 2,2 tỷ USD, gấp hơn 10 lần giá trị xuất khẩu. Điều này cho thấy, nước ta vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn cung từ Trung Quốc với mức nhập siêu gần 2 tỷ USD

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 01/2022, kim ngạch xuất khẩu máy móc thiết bị của Việt Nam đạt xấp xỉ 3,5 tỷ USD, giảm 18,58% so với tháng 12/2021 song tăng 7,51% so với với tháng 01/2021; chiếm tỷ trọng 11,35% tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng của Việt Nam trong tháng 01/2022 với kim ngạch đạt hơn 1,58 tỷ USD, giảm 29,78% so với tháng 12/2021 song tăng nhẹ (0,34%) so với tháng 01/2021, chiếm tỷ trọng tới 45,25% tổng kim ngạch xuất khẩu máy móc của cả nước. Tiếp đến là các thị trường: EU-27 chiếm tỷ trọng 12,75%; ASEAN chiếm 7,38%; Nhật Bản chiếm 7,3%; Hàn Quốc chiếm 6,59%...
Xuất khẩu máy móc thiết bị sang Trung Quốc đạt 207,57 triệu USD, chiếm tỷ trọng 5,93% , tăng 5,47% so với cùng kỳ năm 2021.
Bảng 1: Một số thị trường xuất khẩu máy móc, thiết bị của Việt Nam trong tháng 01 năm 2022
|
Thị trường |
Tháng 01/2022 |
So với |
Tỷ trọng |
|---|---|---|---|
|
Tổng |
3.499.597.408 |
7,51 |
100 |
|
Hoa Kỳ |
1.583.488.277 |
0,34 |
45,25 |
|
FTA RCEP-15 thị trường |
987.864.016 |
15,41 |
28,23 |
|
FTA CPTTP-10 thị trường |
473.853.512 |
23,74 |
13,54 |
|
EU-27 |
446.103.684 |
18,42 |
12,75 |
|
ASEAN |
258.436.973 |
23,75 |
7,38 |
|
Nhật Bản |
255.343.354 |
24,24 |
7,30 |
|
Hàn Quốc |
230.739.264 |
7,76 |
6,59 |
|
Trung Quốc |
207.573.073 |
5,47 |
5,93 |
|
Hồng Kông |
64.825.296 |
3,04 |
1,85 |
|
Anh |
64.411.623 |
-13,64 |
1,84 |
|
Mexico |
53.106.792 |
66,31 |
1,52 |
|
Ấn Độ |
47.098.731 |
-9,01 |
1,35 |
|
Đài Loan |
34.912.667 |
61,47 |
1,00 |
|
Australia |
31.115.891 |
19,62 |
0,89 |
|
Các TVQ Ả Rập Thống Nhất |
30.687.752 |
22,77 |
0,88 |
|
Canada |
28.913.259 |
37,95 |
0,83 |
|
Nga |
28.539.411 |
129,18 |
0,82 |
|
Brazil |
16.202.198 |
-19,21 |
0,46 |
Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan
Ở chiều ngược lại, nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng của cả nước trong tháng 01/2022 đạt gần 3,93 tỷ USD, giảm 1,64% so với tháng 12/2021 nhưng tăng nhẹ (0,38%) so với tháng 01/2021; chiếm tỷ trọng 13,34% tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa của cả nước.
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu máy móc thiết bị lớn nhất trong tháng 01/2022 với kim ngạch đạt hơn 2,2 tỷ USD, tăng 3,39% so với tháng 12/2021 và tăng 8,41% so với tháng 01/2021; chiếm tỷ trọng 56,14% tổng kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng của nước ta.
Tiếp đến là các thị trường: Hàn Quốc chiếm tỷ trọng 13,06%; Nhật Bản chiếm 7,94%; EU-27 chiếm 6,73%; ASEAN chiếm 5,39%; Đài Loan chiếm 3,15%...
Bảng 2: Một số thị trường nhập khẩu máy móc, thiết bị của Việt Nam tháng 01 năm 2022
|
Thị trường |
Tháng 01/2022 |
So với |
So với |
Tỷ trọng |
|---|---|---|---|---|
|
Tổng |
3.927.485.837 |
-1,64 |
0,38 |
100,00 |
|
FTA RCEP-15 thị trường |
3.244.037.119 |
-3,59 |
0,46 |
82,60 |
|
Trung Quốc |
2.204.957.462 |
3,39 |
8,41 |
56,14 |
|
Hàn Quốc |
512.863.980 |
-1,88 |
-13,89 |
13,06 |
|
FTA CPTTP-10 thị trường |
421.428.226 |
-25,41 |
-12,84 |
10,73 |
|
Nhật Bản |
311.824.195 |
-26,97 |
-13,18 |
7,94 |
|
EU-27 |
264.348.903 |
15,14 |
-8,04 |
6,73 |
|
ASEAN |
211.597.049 |
-24,03 |
-11,21 |
5,39 |
|
Đài Loan |
123.615.559 |
-7,28 |
-0,65 |
3,15 |
|
Hoa Kỳ |
79.830.637 |
-9,83 |
0,25 |
2,03 |
|
Ấn Độ |
53.643.887 |
68,20 |
28,37 |
1,37 |
|
Hồng Kông |
48.504.930 |
198,73 |
27,12 |
1,24 |
|
Israel |
13.544.818 |
147,80 |
221,32 |
0,34 |
|
Anh |
12.457.573 |
-20,24 |
4,02 |
0,32 |
|
Thụy Sỹ |
11.902.624 |
-9,52 |
-61,05 |
0,30 |
Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan
Qua số liệu phân tích trên đây có thể thấy, Việt Nam vẫn phụ thuộc vào máy móc, thiết bị từ Trung Quốc. Mặc dù việc nhập khẩu máy móc từ Trung Quốc là nhằm phục vụ sản xuất cho các doanh nghiệp, tuy nhiên việc quá phụ thuộc vào nguồn máy móc của nước này vẫn gây nên nỗi lo lớn khi việc nâng cao tỷ lệ nội địa hóa về máy móc, thiết bị trong các ngành công nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Hiện máy móc, thiết bị công nghiệp nhập từ Trung Quốc vẫn có giá rẻ hơn so với mua ở Việt Nam hay nhập khẩu từ các nước khác.Giá nhiều mặt hàng máy móc, phụ tùng, linh kiện từ Trung Quốc so với sản phẩm cùng loại từ các nước phát triển chỉ bằng 1/3.Đây cũng là lợi thế lớn khi các doanh nghiệp trong nước cần đầu tư máy móc sản xuất sau đại dịch Covid-19 với nguồn tài chính khiêm tốn trong khả năng cho phép.
Tuy nhiên, phần lớn máy móc, thiết bị giá rẻ của Trung Quốc có chung nhược điểm là tuổi thọ thấp, tiêu hao nhiều năng lượng, không phải là công nghệ nguồn. Đặc biệt, có những loại máy móc giá rẻ với công nghệ thấp, bị thải loại, ít tính đến yếu tố môi trường, không cho ra những sản phẩm chất lượng cao, khó khăn trong việc tìm kiếm linh phụ kiện thay thế… sẽ tạo ra những rủi ro rất lớn trong đầu tư.
Vì vậy, để giảm việc phụ thuộc vào máy móc Trung Quốc, vấn đề đặt ra là Nhà nước cần có thêm những chính sách hỗ trợ để các doanh nghiệp Việt tham gia chiến lược nội địa hóa máy móc thiết bị.Bên cạnh đó, cần phải có cơ chế chính sách tạo thị trường cho các doanh nghiệp cơ khí nội địa; nhất là không thể tiếp tục tham giá rẻ để tiếp nhận những công nghệ, trang thiết bị thải loại từ nước ngoài tràn vào Việt Nam như những năm gần đây.
Nguồn: Phòng TTCN
-
Sau khi tăng trưởng vượt bậc trong năm 2021, thị trường sợi năm 2022 dự kiến vẫn tăng trưởng nhưng hiệu quả biên lợi nhuận ước chỉ bằng khoảng 30-50% so với năm 2021 do đầu vào giá bông dự kiến ở mức cao, giá sợi sẽ có sự điều chỉnh để phân phối lại lợi nhuận giữa người mua và người bán.
-
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Công điện số 126/CĐ-TTg ngày 12/2/2022 gửi các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ
-
“Bộ Công Thương đã góp phần thực hiện thành công mục tiêu kép, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô mà lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã nhất quán chỉ đạo ngay từ khi dịch COVID-19 mới xảy ra”- Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên nói khi trao đổi với Pháp Luật TP HCM dịp đầu xuân Nhâm Dần 2022.
-
Căn cứ vào giá nhập khẩu bình quân, sau khi cộng thêm các khoản phí, thuế…, Liên bộ Công Thương – Tài chính sẽ quyết định việc tăng hoặc giảm giá hay trích lập Quỹ bình ổn.







