Đánh giá mức độ tăng trưởng của ngành sợi Việt Nam năm 2022
Sau khi tăng trưởng vượt bậc trong năm 2021, thị trường sợi năm 2022 dự kiến vẫn tăng trưởng nhưng hiệu quả biên lợi nhuận ước chỉ bằng khoảng 30-50% so với năm 2021 do đầu vào giá bông dự kiến ở mức cao, giá sợi sẽ có sự điều chỉnh để phân phối lại lợi nhuận giữa người mua và người bán.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong năm 2021, Việt Nam xuất khẩu xơ, sợi đạt trị giá hơn 5,61 tỷ USD, tăng 50,2% so với năm trước.Khối lượng xơ, sợi dệt các loại Việt Nam xuất khẩu cả năm 2021 ước đạt 1,89 triệu tấn, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2020.
Bước sang năm 2022, lượng xơ, sợi dệt các loại Việt Nam xuất khẩu trong tháng 01/2022 đạt 144,2 nghìn tấn, giảm khá mạnh(-12,3%),do xuất khẩu sang hai thị trường lớn là Trung Quốc và Hàn Quốc đều giảm so với cùng kỳ năm 2021. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu xơ sợi tăng khá (20,1%) so cùng kỳ đạt 473,7 triệu USD do giá bông sợi ở mức cao. Giá xuất khẩu sợi trung bình tháng 01/2022đạt 3.285 USD/tấn, tăng 36,96% so cùng kỳ năm trước.
Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu xơ sợi lớn nhất của nước ta trong tháng đầu năm nay, đạt gần 63,63 nghìn tấn với trị giá 208,72 triệu USD, giảm 24,87% về lượng song tăng nhẹ (0,88%) về trị giá so với tháng 01/2021.
Xuất khẩu xơ sợi sang thị trường lớn thứ hai là Hàn Quốc đạt 15,8 nghìn tấn và trị giá 58,71 triệu USD, giảm 6,46% về lượng nhưng tăng 29,09% về trị giá.
Trong khi đó, xuất khẩu sang một số thị trường khác tăng mạnh là: Bangladesh tăng 233,91%; Anh tăng 142,08%; Thổ Nhĩ Kỳ tăng 107,32%; Hoa Kỳ tăng 69,52%; Peru tăng 64,41%.
Dự báo, trong những tháng tới, xuất khẩu mặt hàng xơ, sợi dệt của Việt Namsẽ tăng do nhu cầu thế giới tăng, các doanh nghiệp ngành sợi Việt Nam sẽ tiếp tục đầu tư, mở rộng sản xuất để nắm bắt các cơ hội từ Hiệp định thương mại tự do, cũng như đón đầu xu hướng trong tương lai.
Bảng 1: Thị trường xuất khẩu xơ, sợi chủ yếu của Việt Nam tháng 01/2022
|
Thị trường chủ yếu |
Tháng 1/2022 |
So với T12/2021 (%) |
So với T1/2021 (%) |
Tỷ trọng NK theo lượng (%) |
|||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
Lượng (tấn) |
Trị giá (Triệu USD) |
Đơn giá (USD/tán) |
Về lượng |
Về trị giá |
Về đơn giá |
Về lượng |
Về trị giá |
Về đơn giá |
T1/2022 |
T1//2021 |
|
|
Tổng |
144.203 |
473,72 |
3.285 |
16,37 |
-11,44 |
-23,90 |
-12,35 |
20,06 |
36,98 |
100 |
100 |
|
RCEP |
94.511 |
322,47 |
3.412 |
10,81 |
-15,05 |
-23,34 |
-19,04 |
9,29 |
35,00 |
68,07 |
74,78 |
|
CPTTP |
6.209 |
18,99 |
3.058 |
34,51 |
-3,50 |
-28,26 |
4,04 |
28,14 |
23,17 |
4,01 |
3,76 |
|
Trung Quốc |
63.626 |
208,72 |
3.280 |
7,56 |
-17,53 |
-23,32 |
-24,87 |
0,88 |
34,27 |
44,06 |
52,44 |
|
Hàn Quốc |
15.808 |
58,71 |
3.714 |
15,56 |
-14,45 |
-25,97 |
-6,46 |
29,09 |
38,00 |
12,39 |
11,53 |
|
ASEAN |
11.798 |
45,49 |
3.856 |
16,14 |
-6,61 |
-19,59 |
-4,39 |
26,58 |
32,40 |
9,6 |
9,11 |
|
Hoa Kỳ |
10.856 |
15,39 |
1.417 |
46,48 |
18,51 |
-19,10 |
69,52 |
113,37 |
25,87 |
3,25 |
1,83 |
|
Bangladesh |
5.426 |
27,30 |
5.031 |
23,68 |
-2,67 |
-21,31 |
233,91 |
292,64 |
17,59 |
5,76 |
1,76 |
|
Đài Loan |
3.701 |
15,15 |
4.093 |
-18,96 |
-23,72 |
-5,87 |
-18,66 |
33,55 |
64,18 |
3,2 |
2,87 |
|
Nhật Bản |
3.279 |
9,56 |
2.914 |
42,69 |
3,75 |
-27,29 |
16,52 |
41,66 |
21,57 |
2,02 |
1,71 |
|
Anh |
3.239 |
3,59 |
1.107 |
70,12 |
68,78 |
-0,79 |
142,08 |
226,49 |
34,87 |
0,76 |
0,28 |
|
Thổ Nhĩ Kỳ |
2.973 |
12,58 |
4.232 |
36,82 |
13,39 |
-17,12 |
107,32 |
151,66 |
21,39 |
2,66 |
1,27 |
|
Pakistan |
1.913 |
9,94 |
5.196 |
1,06 |
-14,57 |
-15,46 |
-41,14 |
63,02 |
176,96 |
2,1 |
1,55 |
|
Brazil |
1.906 |
3,63 |
1.904 |
60,71 |
-12,76 |
-45,72 |
-72,11 |
-68,04 |
14,59 |
0,77 |
2,88 |
|
Ấn Độ |
1.839 |
6,28 |
3.413 |
77,34 |
43,05 |
-19,34 |
-35,92 |
-7,54 |
44,30 |
1,32 |
1,72 |
|
Ai Cập |
1.825 |
6,24 |
3.422 |
65,16 |
39,99 |
-15,24 |
23,81 |
59,07 |
28,47 |
1,32 |
0,99 |
|
Colombia |
1.820 |
7,87 |
4.326 |
10,77 |
-6,83 |
-15,89 |
-28,54 |
29,17 |
80,77 |
1,66 |
1,54 |
|
EU-27 |
1.592 |
8,40 |
5.279 |
160,98 |
73,01 |
-33,71 |
48,09 |
151,55 |
69,86 |
1,77 |
0,85 |
|
Pê Ru |
1.238 |
3,57 |
2.883 |
31,01 |
-3,22 |
-26,12 |
64,41 |
112,54 |
29,27 |
0,75 |
0,43 |
|
Hồng Kông |
575 |
3,17 |
5.508 |
56,25 |
3,63 |
-33,68 |
-71,29 |
-48,58 |
79,12 |
0,67 |
1,56 |
|
Sri Lanka |
476 |
3,31 |
6.947 |
-9,68 |
-32,04 |
-24,76 |
-44,84 |
-21,01 |
43,21 |
0,7 |
1,06 |
|
Chile |
294 |
0,64 |
2.185 |
79,27 |
-0,65 |
-44,58 |
-14,29 |
-24,10 |
-11,46 |
0,14 |
0,21 |
Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ
Về tình hình nhập khẩu: Trong tháng 01/2022, lượng xơ sợi nhập về Việt Nam là 93,4 nghìn tấn, trị giá 232,3 triệu USD, giảm 16,5% về lượng và tăng 5,7% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.
Xơ sợi dệt nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất có xuất xứ từ Trung Quốc, đạt 54,77 nghìn tấn, kim ngạch đạt 135,11 triệu USD, giá trung bình 2.467 USD/tấn, giảm 10,2% về lượng song tăng 15,28% về kim ngạch so với tháng 01/2021; chiếm tỷ trọng 58,66% trong tổng lượng xơ sợi nhập khẩu của cả nước.
Thị trường nhập khẩu lớn thứ hai là ASEAN, đạt gần 13,3 nghìn tấn, với trị giá đạt27,54 triệu USD, chiếm tỷ trọng 14,24%, giảm 7,48% về lượng nhưng tăng 24,24% về kim ngạch so với cùng kỳ 2021.
Nhập khẩu xơ sợi từ thị trường Đài Loan đạt 12,73 nghìn tấn, trị giá 29 triệu USD chiếm tỷ trọng 13,63% , giảm mạnh (-31,84%) về lượng và giảm 13,33% về trị giá so với cùng kỳ.
Bảng 2: Thị trường nhập khẩu xơ, sợi dệt các loại của Việt Nam
|
Thị trường chủ yếu |
Tháng 01/2022 |
So với T12/2021 (%) |
So với T01/2021 (%) |
Tỷ trọng NK theo lượng (%) |
|||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
Lượng (tấn) |
Trị giá (Triệu USD) |
Đơn giá (USD/tán) |
Về lượng |
Về trị giá |
Về đơn giá |
Về lượng |
Về trị giá |
Về đơn giá |
T01/2022 |
T01//2021 |
|
|
Tổng |
93.366 |
232,32 |
2.488 |
-16,06 |
-9,88 |
7,37 |
-16,79 |
5,55 |
26,86 |
100,00 |
100,00 |
|
RCEP |
72.913 |
176,93 |
2.427 |
-18,53 |
-12,47 |
7,44 |
-11,45 |
12,74 |
27,32 |
78,09 |
80,46 |
|
CPTTP |
1.798 |
5,36 |
2.981 |
8,12 |
-28,97 |
-34,3 |
1,52 |
10,71 |
9,05 |
1,93 |
1,50 |
|
Trung Quốc |
54.771 |
135,11 |
2.467 |
-17,97 |
-11,23 |
8,21 |
-10,2 |
15,28 |
28,37 |
58,66 |
60,03 |
|
ASEAN |
13.299 |
27,54 |
2.071 |
-9,26 |
-4,41 |
5,35 |
-7,48 |
24,24 |
34,28 |
14,24 |
13,18 |
|
Đài Loan |
12.730 |
29,00 |
2.278 |
-15,73 |
-8,9 |
8,1 |
-31,84 |
-13,33 |
27,16 |
13,63 |
13,58 |
|
Ấn Độ |
4.605 |
14,41 |
3.130 |
18,14 |
26,35 |
6,95 |
-26,41 |
4,17 |
41,57 |
4,93 |
3,50 |
|
Hàn Quốc |
4.546 |
12,04 |
2.649 |
-38,81 |
-23,62 |
24,82 |
-30,39 |
-14,78 |
22,43 |
4,87 |
6,68 |
|
Nhật Bản |
297 |
2,24 |
7.536 |
-53,95 |
-58,21 |
-9,24 |
-33,56 |
-34,85 |
-1,94 |
0,32 |
0,58 |
|
Bangladesh |
576 |
0,64 |
1.105 |
133,2 |
116,96 |
-6,96 |
37,14 |
27,38 |
-7,12 |
0,62 |
0,22 |
|
EU |
313 |
1,40 |
4.486 |
55,72 |
57,44 |
1,1 |
-79,99 |
-67,77 |
61,03 |
0,34 |
0,18 |
|
Pakistan |
68 |
0,31 |
4.562 |
-46,88 |
-50,7 |
-7,21 |
-69,64 |
-59,38 |
33,79 |
0,07 |
0,12 |
|
Hồng Kông |
34 |
0,31 |
8.997 |
-62,64 |
-53,15 |
25,38 |
161,54 |
767,43 |
231,66 |
0,04 |
0,08 |
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan
Ngành sợi Việt Nam với hơn 70% sản lượng dùng để xuất khẩu, trong đó xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc chiếm khoảng 55-70% tuỳ từng giai đoạn. Mặt khác, nguồn nguyên liệu đầu vào chính của ngành sợi là bông lại hoàn toàn nhập khẩu với hơn 50% đến từ Mỹ, còn lại từ các nước khác như Brazil, Ấn Độ, Úc, Tây Phi…. Điều này cho thấy, ngành sợi Việt Nam dễ bị ảnh hưởng trước các biến động về kinh tế, chính trị, quan hệ thương mại giữa các nước. Vì vậy, để đánh giá được mức độ tăng trưởng của ngành sợi Việt Nam trong năm 2022, cần xem xét một số nhân tố tác động như: Sự ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đến chuỗi giá trị dệt may nói chung và ngành sợi nói riêng; nhu cầu sợi toàn cầu dự báo sẽ tăng trong do nhu cầu hàng dệt may tăng trở lại; diễn biến về mối quan hệ thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, hai quốc gia cung và cầu dệt may lớn nhất thế giới; Trung Quốc có xu hướng tập trung vào sản xuất các loại sợi cao cấp với chỉ số cao, đồng thời tăng cường nhập khẩu các loại sợi có chỉ số thấp và trung bình hoặc dịch chuyển việc sản xuất các loại sợi này sang các nước khác.
Nguồn: Phòng TTCN
-
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Công điện số 126/CĐ-TTg ngày 12/2/2022 gửi các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ
-
“Bộ Công Thương đã góp phần thực hiện thành công mục tiêu kép, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô mà lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã nhất quán chỉ đạo ngay từ khi dịch COVID-19 mới xảy ra”- Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên nói khi trao đổi với Pháp Luật TP HCM dịp đầu xuân Nhâm Dần 2022.
-
Căn cứ vào giá nhập khẩu bình quân, sau khi cộng thêm các khoản phí, thuế…, Liên bộ Công Thương – Tài chính sẽ quyết định việc tăng hoặc giảm giá hay trích lập Quỹ bình ổn.
-
Nhằm ghi nhận, biểu dương doanh nghiệp và các cơ quan truyền thông của Bộ có nhiều đóng góp cho sự phát triển của ngành Công Thương thời gian qua, ngày 07/02 và 08/02/2022 (tức mùng 7 và mùng 8 Tết Nguyên đán)







